Thứ Ba, ngày 07 tháng 5 năm 2013

58.CẨN PHẠM DUY

100 NGÀY MẤT PHẠM DUY

1.Chương trính Tình khúc vượt thời gian tháng 4 được VTV9 phối hợp với JET studio tổ chức tại nhà hát Bến Thành  ,được thông báo từ đợt trước và phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng với chủ đề là TÌNH KHÚC PHẠM DUY để kỹ niệm 100 ngày mất của nhạc sĩ. Tôi trầm trồ với vợ,sự kiện này mà tổ chức bên rạp Hòa bình ,giá vé ngất ngưỡng 1-2 triệu ngay.
   Nghĩ vậy nên từ thứ 5 tôi đã đến mua vé.Thấy các quảng cáo  tiết mục tạp kỹ cho ngày lễ lớn lấn  át băng rôn  ca nhạc,tôi ngạc nhiên sao  lại lạnh nhạt với nhạc sĩ vậy ? Vé chưa bán nên trưa thứ 7 quay lại   vẫn thấy hình PD và các ca sĩ dán tại ngay quầy  , tôi hỏi mua vé ca nhạc PD thì cô bán vé không phản ứng gì cả.Không thấy cảnh bán vé chợ đen ì xèo ,nhìn lên băng rôn thấy "Tình khúc bất hủ" nhưng tôi vẫn không nghi hoặc gì.Tối vào rạp thấy khán giả ít và trẻ hơn chương trình của H.T.Thơ ,tôi phân vân hỏi bác bên cạnh thì cũng nhận được thắc mắc vậy.Khi người dẫn chương trình giới thiệu nhưng không giải thích hoặc xin lỗi khán giả gì,tôi mới ngã ngửa ra là chương trình thay đổi hoàn toàn ,chỉ có ba bài của PD được hát thôi. Thế là họ lặng lẽ lừa khán giá rồi ! Về nhà tức quá ,tôi mới vào các trang mạng kể cả của JET cũng không một lời thông báo hoãn chương trình mà chỉ đổi tên lấp lửng ai muốn hiểu gì thì hiểu.Mãi mới tìm ra một mẩu tin ngắn trên Thanh niên online.Ai để ý tìm mới biết nhưng như vậy là họ không bị lỗi rồi ! 
    Thôi thế là chết em rồi ,hèn gì mà im lặng vậy , khác với không khí lễ hội ồn ào trên 10.000 khán giả tại đên nhạc miễn phí của T.C.Sơn nhân ngày mất của nhạc sĩ  ở Phú Mỹ Hưng trước đó. Thật tiếc một dịp tôt để bình dân hóa Phạm Duy cho khán giả và nâng cao uy tín của nhà tổ chức một chương trinh có tên tuổi ! Có lẽ do bản quyền chăng?

    2. Tên cúng cơm của Phạm Duy là Cẩn.Người cha là  nhà văn Phạm Duy Tốn cấp tiến bấy giờ mong muốn các con trai mình có những đức tính tốt như Phạm Duy tâm sự " Mà hay lắm nhé, bố tôi là Tốn, anh tôi là Khiêm, là Nhường, tôi là Cẩn. Người ta hay nói nghệ sĩ bừa bãi, nhưng tôi cẩn thận lắm. Ví như ngày xưa nghệ sĩ mình thường hay bắt chước, hay uống rượu, hút thuốc, ra ngoài thì nói "một tấc đến trời", còn tôi gần 90 tuổi rồi, nhưng không uống một giọt rượu, không hút một điếu thuốc nào".
  Mang trong mình giòng máu nổi loạn của cha và sự rộng rãi tốt bụng ,hoạt bát trong buôn bán của mẹ;ông là cậu bé hiếu động, tính tình "văng mạng, bất cần đời" nhưng dám chấp nhận nghịch cảnh,biết thương người và rất ham mê dịch chuyển.
 Sau khi tốt nghiệp tiểu học và học được một năm  trung học,do thái độ bất phục tùng nên ông bị anh  cả "thế phụ" đẩy vào học cấm túc tại trường Kỹ Nghệ thực hành E.I.P để  tập tành làm công nhân và đấu tranh cũng như thấm thía nổi sầu cô quạnh.Bị đuổi khỏi trường do vi phạm kỹ luật ,ông đã về sống với vú sữa ở Trạm Chôi (Hà Tây) để "biết về đồng ruộng nhiều hơn học ở vỉa hè" lúc tâm hồn còn trong trắng.Mới 17 tuổi ,ông đã sống tự lập xa gia đình lên Moncay(móng cái) làm công nhân đốt than nhà máy điện,rồi sống đời như anh trai lực điền tại vùng núi rừng Nhã Nam  trong trang trại của bố mẹ nuôi Tuần phủ Kiến an (Hải Phòng).Đang có cuộc  sống  yên ổn của anh công nhân hoặc quản lý trại nhưng nghe rủ đi xa thế là ông không đắn đo ,xách túi lên đường ngay.Lần này là bước ngoặt lớn trong cuộc đời  khi ông thay tên (chỉ còn Phạm Duy),bất chấp sự miệt thị của xã hội về nghiệp "xướng ca vô loài"  để theo gánh hát CHARLER MIỀU-ĐỨC HUY rong ruổi khắp đất nước trong hai năm trời.Đây là giai đoạn quan trọng để ông tự học thêm các làn điệu dân ca các miền,tự rèn luyện trong biểu diễn và sáng tác âm nhạc.Với sự hào hoa của chàng trai Hà nội đa tài đa tình, hoạt bát giao du rộng; ông đã tiếp xúc với đủ mọi tầng lớp trong xã hội và trưởng thành về mọi mặt .Là người đầu tiên trình diễn và phổ biến các tác phẩm "nhạc cải cách" trên sân khấu ,ông cũng tiên phong khi đưa nó lên làn sóng Radio Indochine tại Sài gòn.Ở xã hội Việt Nam bị Pháp đô hộ lúc ấy,ông là người đầu tiên hiểu thương mại hóa các hoạt động sáng tác biểu diễn và thấy được khả năng kiếm tiền từ hoạt động nghệ thuật của mình.Với một người trẻ chưa đến 20 tuổi  phải nói đó là một phát hiện lớn ,thể hiện ý chí không chịu nghèo"nếu không được sống nhiều tiền thì cũng không thể khổ như chó " của nhà văn An nam được.Một thu hoạch lớn nữa là ông đã nắm được các kỹ năng  làm chủ sân khấu,  "không còn coi đối tượng là quan trọng nữa ,đã chủ trương khi cất lên tiếng hát là hát cho mình nhiều hơn là cho người  ".Chính vì thế ông vẫn hăng hái biểu diễn dù dưới sân khấu chỉ có vài khán giả ở những nơi chưa biết Tân nhạc là gì  và từ đó đã xác định đường hướng hoạt động nghệ thuật của mình .
   Phạm Duy là người "khóc cười theo vận nước nổi trôi" ,ông tham gia vào các biến cố lịch sử dân tộc :tham gia Thanh niên Tiền phong cướp chính quyền tại Sài gòn,ra Bắc trong những ngày sục sôi ấy,quay lại miền Đông Nam bộ theo phong trào "Nam tiến",tham gia kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc -khu Ba-khu Bốn -đi thực tế chiến trường Bình Trị Thiên nguy hiểm...Hiếm có người nào đi khắp đất nước ,nhiều nơi trở lại ít nhất hai lần trong thời gian chiến tranh như ông. 
  Với tính cách nghệ sĩ chuộng tự do ,ông tham gia kháng chiến một cách hồ hởi vô tư ,đi khắp nơi vừa sáng tác vừa biểu diễn cho công nông binh .Nơi ở lâu nhất của ông là ở Thanh hóa ,dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Sơn hiểu và tôn trọng giới văn nghệ sĩ.
 Đến  năm 1950 ,ông đã là người nổi tiếng với những sáng tác Nhớ người thương binh , Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều...rồi các tác phẩm khai thác mặt trái của chiến cuộc như Bên cầu biên giới,Quê nghèo,Bà mẹ Gio Linh,Về miền Trung,Mười hai lời ru... 
  Được triệu tập về dự Đại hội văn hóa toàn quốc ở chiến khu Việt bắc vào mùa hè 1950,ông đã đưa cả vợ đang mang bầu  đi bộ   vất vả cả tháng mới tới nơi. Tại cuộc nghị sự này là bước đầu Đảng cộng sản chấn chỉnh và đi sâu can thiệp  các hoạt động văn hóa nghệ thuật.Ông được cán bộ nhạc Nguyễn Xuân Khoát gặp riêng báo sẽ được đi học ở Liên Xô ,gặp Cụ Hồ ,khen thưởng cao nhưng phải khai tử  tác phẩm Bên cầu biên giới . Nếu đi theo con đường này và biết nghe lời ,chắc  ông đã là một quan nhạc sĩ dưới chế độ Miền Bắc.Lo lắng vợ sắp đến ngày vượt cạn một mình và linh cảm không khí không còn tự do như trước ,nhất là sau khi ăn cơm với tướng Nguyễn Sơn bị trả về Tàu ;ông quyết định không đi nước ngoài học mà đưa vợ về lại Thanh Hóa.Sau khi vợ sinh,sống bị lãng quên ngoài tổ chức ,ngày 1/5/1951 ông đã "Dinh tê" về Hà nội.Một điều lạ là ,các nhà xuất bản lúc đó ở vùng tạm chiếm vẫn in các tác phẩm kháng chiến của ông và  trả nhuận bút cho mẹ ông bình thường. Do từng trải hiểu rõ xã hội miền Nam nên chỉ ở lại Hà nội một tháng ,cả gia đình ông bay vào Sài gòn bằng tiền nhuận bút do nhà xuất bản  ứng trước  các tác phẩm của mình .Sau này ,ông cho rằng mình là kẻ bạt mạng "không chịu lùa vào kỹ luật"nên không ham địa vị như từ chối nhận Giám đốc Đài phát thanh  ở Sài gòn để được làm nghệ thuật theo ý thích cá nhân
  Nghệ sĩ chỉ tồn tại bằng tác phẩm ,đó là hạnh phúc lớn nhất của họ hơn cả chức tước địa vị ,giàu sang.Việc cổ vũ lòng yêu nước thương nòi , tình tự dân tộc để "ra ngõ gặp người hiền ",làm tròn“Trách nhiệm của người sáng tác là gieo mầm và nuôi dưỡng niềm tin để xã hội bớt duy lợi hơn” ; quan niệm của ông vẫn còn thời sự cho đến hiện nay  .So với các tác giả bị hành hạ trong Nhân văn Giai  phẩm thì ông là người được may mắn hơn khi được  sáng tác không quá  hạn chế .Các tác phẩm để đời của ông như Tình ca,Tình hoài hương...viết trước khi đất nước bị chia cắt,sẽ được triệu triệu người Việt Nam nhớ đến dù ở bất cứ bên nào .
  Dám làm theo ý mình và đi trước người khác ,đó là bản lĩnh và tài năng hiếm có của ông.Vào Nam trước xa cuộc di cư năm 1954 ,đi học nhạc tại Pháp trước đình chiến ,di tản qua Mỹ trước 30/4 và về lại  nước năm 2005 dù có nhiều ý kiến trái chiều...cho thấy ông có sự nhìn xa trông rộng.
   Phạm Duy là người có trách nhiệm với gia đình ,dù sống phóng túng nhưng  biết giữ mình không sa vào hút xách như các văn nghệ sĩ thời ấy. Hình ảnh ông đặt vợ có bầu nằm trên ngực để tránh nước mưa ngấm lạnh khi nằn trên đất trong đêm trên đường từ chiến khu về Thanh làm người ta nhớ mãi.
    Ông cho rằng thời cuộc thay đổi nhưng ông không thay đổi ,vẫn sáng tác không ngừng với trên 1000 bài ca  về mọi thể loại.
  Phạm Duy, hơn ai hết, đã nhìn thấy trước ở dân tộc này một tinh thần hòa giải mênh mông như biển, những tị hiềm, hằn thù rồi sẽ bị xóa nhòa.Một giáo sư nước ngoài  cho rằng chỉ khi nào cả hai phía có sự hòa giải thật sự, thì khi đó vị trí của Phạm Duy mới hết gây tranh cãi. “Khi nào cả hai phía cùng hoà giải với nhau thì họ sẽ thấy Phạm Duy đón họ ở đấy,” giáo sư Eric Henry viết.
  Phạm Duy đã sống một cuộc đời đáng sống ,ít ra là đối với ông , dẫu còn chút băn khoan"Sống rất phóng túng và nhất là sống trong một thời đại rất náo động thì - hoặc ít hay nhiều - tôi có thể đã làm nên những điều lầm lỗi. Tôi rất muốn xin lỗi nhiều người” . Đó có thể là những bài ca Chào mừng Việt Nam ngợi ca chế độ Ngô Đình Diệm mà ông gọi là làm "bổn phận công dân" hoặc ca kịch "chim lồng" để so sánh với hai chế độ đang tồn tại trên nước Việt Nam hoặc các tác phẩm Tục ca,Vỉa hè ca...
  Dẫu quyết định nhiều vấn đề có tính bước ngoặt trong cuộc đời rất nhanh và quyết đoán nhưng ông cho rằng mình suy nghĩ rất cẩn trọng ,tính toán kỹ chứ không hẵn bốc đồng.Dù sao  đi nữa,ông đã "CẨN "  tên mình vào lịch sử Tân nhạc Việt Nam như một trong những tên tuổi lớn bền bỉ theo thời gian !

  3. Phạm Duy có một tâm hồn"vốn nhạy cảm từ khi còn bé" ,mau có nước mắt khi nghe hát hoặc gặp các tình cảnh éo leo của người khác.Là con út ,ông được mẹ cưng chiều cho ngủ chungđến 14 tuổi và hay dẫn đi vãn cảnh chùa hoặc buôn bán ở các vùng núi.Ông thể hiện niềm hạnh phúc và quyến luyến khi được tình thương của ba người mẹ bảo bọc:mẹ ruột có học , rộng rãi,cấp tiến;mẹ sữa nuôi từ nhỏ hiền lành ;mẹ nuôi bà Tuần phủ tốt bụng.Ông cho rằng các bài ca về mẹ của ông phần nào đã thể hiện lòng tôn kính của ông qua lăng kính họ.
  Phạm Duy biết yêu từ rất sớm ,khi chỉ mới 12 tuổi.Trước đó mới 9-10 tuổi ,ông đã bị dụ dỗ vào phòng "để biết mùi vị thơm nồng của đàn bà nhưng chưa biết khoái lạc là gì ".Sau đó ông đã lao tới các cuộc tình mê hồn trên khắp nẻo đường đất nước.Ông cho rằng chưa ai sướng bằng ông ở cái nghĩa hết mình vì yêu "đôi mắt bao giờ cũng còn đuôi ,không bao giờ hận tình".
  Ông dám yêu kể cả khi có gia đình ,ông không dấu vợ con khi nói " em là vợ,còn người tình thì phải có ,có người tình mới sáng tác được".Ông có nhiều sáng tác sâu sắc về người tình nhưĐưa em tìm động hoa vàng,Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà,Nha trang ngày về...
   Quan niệm về tình yêu của ông rất đẹp ,trân trọng "tôi muốn tri ân tất cả những người tình vì làm nhịp sống trong tâm tôi nhảy vọt lên".Người ta cho rằng ông có đến cả trăm người tình  và dĩ nhiên với sự lãng mạn ấy,ông không tránh khỏi những tai tiếng khi yêu cả vợ của người em vợ mình.Tuy nhiên ông vẫn rất yêu quý vợ và giữ yên ấm gia đình.Bà Thái Hằng vợ ông là người giản dị ,gần gũi xóm giềng ,hiểu và chấp nhận sự đa tình của ông.Khi báo chí tò mò với scandan ngoại tình của ông,bà bình tĩnh làm dư luận xẹp xuống với câu trả lời nhất quán là bà tin ở ông .Khi bà mất ,ông viết vào hồi ký "Không có em,không bao giờ có Phạm Duy" , thật rõ ràng sòng phẳng và  chí tình !

    4.Phạm Duy được tiếp xúc với âm nhạc dân tộc rất sớm qua các bản Nam ai,Nam bình bà ấm Chung dạy cho các chị ;qua các điệu xẩm  ở Bờ hồ; xem cọp chèo cổ, tuồng Tàu ,cải lương Nam kỳ ở các rạp;qua các điệu Hát bội do các người buôn mắm ra tá túc trong nhà và nhất là học hát quan họ ở Nhã Nam khi làm gã nông dân đa tình ...
 Lúc thoát ly theo gánh hát rong,ông đã học đánh guitar và sự hòa nhạc hàng đêm với ban nhạc Tây trong gánh.Ông cho rằng "trường Đại học âm nhạc của tôi,đó là những chuyến đi vào nhân dân bằng gánh hát rong này vậy".Khi đến Huế ,ông nhận ra" Âm giai lơ lớ đã thể hiện được thần bí cõi lòng,vì vậy dễ dàng đi sâu vào tâm hồn người nghe hơn là nhạc ngũ cung đúng của Miền Bắc".Tấm lòng của ông rộng mở ,không bảo thủ để tiếp thu các tinh hoa dân ca của các vùng miền.
   Phải nói rằng việc giáo dục bấy giờ tính thực học rất cao.Chỉ mới học hết tiểu học mà ông đã có thể sử dụng tiếng Pháp thành thạo để đọc các sách nguyên bản dạy nhạc Lavignac và nhất là "sau bốn năm học,chúng tôi đã hấp thụ được những gì gọi là cao cả,lễ nghĩa,nhân hậu trong con người Việt Nam ".Dĩ nhiên trường học đã dạy cho ông những điêu nhạc Tây mới mẽ để ông tiếp cận với âm nhạc hiên đại của thế giới.Cũng nói thêm rằng ,ông rất thích  khoa học kỹ thuật  và tự mày mò lắp ráp được radio bóng điện tử .Chính điều đó đã giúp ông nắm được kỹ thuật sáng tác nhạc trên computer từ rất sớm khi qua Mỹ.Được  xem các video giao lưu văn hóa quốc tế  tại Hawaii ,ông thật hoạt bát sử dụng thành thạo tiếng Anh khi  trao đổi và biểu diễn  , đã đem dân ca nước ta phổ biến ra nước ngoài thật hiệu quả !
  Phạm Duy là con chim bách thanh ,người ta có thể nghe được giọng hót ấy trên nhiều chất giọng.
 "Là người đầu tiên  đem nhạc Văn Cao đi gieo buồn khắp chốn" với bài Buồn tàn thu và phổ nhạc bài Cô hái mơ  sớm nhưng phải đến khi tìm ra được hướng đi đúng,hợp với tâm khảm của lòng dân  thì nhạc của ông đi  nhanh vào đại chúng .Dẫu là nhạc kháng chiến nhưng sáng tác của ông  vẫn rất riêng,khác biệt với tính "cách mạng" của một số nhạc sĩ khác như Nguyễn Đình Thi ,Văn Cao như Xuất quân(Bà rịa ,45),Chiến sĩ vô danh(chiến khu Nam bô,46),Nhạc tuổi xanh(46),Về đồng hoang (phú thọ,47)...
  Nhưng có lẽ đóng góp lớn nhất của Phạm Duy là tiên phong trong việc cho ra đời các tác phẩm tân dân ca mềm mại,thiết tha ,nhiều nữ tính  như ông xác định"tuy là một trong những người đầu tiên đưa ra chủ trương là phải tạo nên một dòng nhạc mới thay thế cho dòng nhạc cổ nhưng tôi vẫn luôn luôn để tâm nghiên cứu kỹ càng những làn điệu của dòng nhạc bình dân ở từng địa phương để từ đó phát triển lên dòng nhạc cải cách ".Một loạt tác phẩm ra đời như Nhớ người thương binh ,Dăn dò,Ru con,Nhớ người ra đi,Nương chiều ...rồi đến loạt bài ở Bình Trị Thiên như Quê nghèo,Bà mẹ Gio linh,Về miền Trung...
   Những sáng tác của ông như các nhà nghiên cứu nhạc cho rằng,vẫn dưa trên cơ sở dùng âm giai ngũ cung cố hữu nhưng đã di chuyển trên nhiều hệ ngũ cung khác nhau không rập khuôn và lời  vẫn dựa vào thể thơ lục bát nhưng được biến thể phong phú hơn.Tiếp đó ,ông đã sáng tạo ra khuynh hướng sáng tác "Tình ca quê hương" với những tác phẩm  tiêu biểu như Tình ca ,Tình hoài hương... rồi thể loại mới "tự tình dân tộc "như Em bé quê,Vợ chồng quê ...được các nhạc sĩ trẻ như Hoàng Thi Thơ .Trần Thiện Thanh.. hưởng ứng để soạn ra các nhạc phẩm mà họ gọi là dân ca mambo bolero.
   Đặc biệt trong ca khúc của ông là những bản nhạc tình,ca ngợi tình yêu lứa đôi với nhiều cung bậc hạnh phúc,khổ đau,nhớ thương:Đừng xa nhau, Ngày đó chúng mình, Tìm nhau, Thương tình ca, Kiếp nào có yêu nhau, Mưa rơi, Đường em đi, Còn gì nữa đâu...
 Sau khủng hoảng năm 1968,từ năm 1970 trở đi ông trở nên tươi trẻ lại với các tác phẩm  tình ca nhẹ nhàng lãng mạn thích hợp với tuổi thanh niên, sinh viên như Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi, Thà như giọt mưa.... Ngoài việc tự sáng tác nhạc và lời, ông cũng không quên phổ thơ người khác thành những tác phẩm được đông đảo người yêu mến, như những bài Ngày xưa Hoàng thị, Đưa em tìm động hoa vàng, tập nhạc "Đạo ca" (phổ thơ Phạm Thiên Thư), cô Bắc kỳ nho nhỏ, Em hiền như Ma-soeur (phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên), Tiễn em, Mùa thu Paris (phổ thơ Cung Trầm Tưởng.Năm 1982,  ông đã để  tâm hồn tôi lắng xuống và  cho ra đời Hoàng Cầm ca gồm những bài phổ từ thơ Hoàng Cầm.
  Phạm Duy là người nhiều sáng tạo ,kiên trì theo đuổi mục tiêu mình đặt ra "những gì tôi suy nghĩ bây giờ ,tôi đã nghĩ từ những năm 1940.Trước sau tôi là nhạc sĩ kiên trì .Người nào không hiểu nói tôi kiêu hãnh ,cứng đầu".Chính vì thế ,ông là nhạc sĩ của nhiều thời và vượt lên trên thế sự để "bàng bạc" trong tâm hồn dân tộc hiện tại và mãi mai sau !

   5.Phạm Duy luôn là người trung thực với chính mình  và mọi người .Với các nhạc sĩ tài danh hoặc văn nghệ sĩ cùng thời ,ông dành những nhận xét trân trọng đúng mực.Ông xác nhận một trong những người mở đầu Tân nhạc là Đặng Thế Phong với Con thuyền không bến ,ông tổ sư nhạc tình trong làng Tân nhạc là :Dương Thiệu Tước ,Thẩm Oánh,Văn Chung,Lê Yên ,DZoãn Mẫn...
  Viết về Văn Cao ,lúc nào ông cũng dành những lời tâm phục với người nghệ sĩ thơ hay ,vẽ đẹp mà ông phải học rất nhiều " Vào lúc Tân nhạc mới chập chững biết đi mà Văn Cao đã viết được những câu nhạc diễn tả giọt mưa tài tình như vậy,thật là hiếm có ", rồi "Ông ấy làm Thiên Thai ,Trương Chi tới 99 khuông nhạc ,còn tôi chỉ ba mươi mấy khuông là hết rồi.Tôi lúc nào cũng kính trọng ông ấy ".
  Đối với Trịnh Công Sơn ,ông cho rằng đó là " nghệ sĩ có tài ,có được sự nghiệp rất lớn ...Nếu so sánh giữa chúng tôi với nhau thì có khác nhau:Trịnh Công Sơn sáng tác tuỳ hứng, còn tôi thì làm việc có chương trình hẳn hoi.Nếu không có chiến tranh thì không có Trịnh Công Sơn như người nghe được biết  với những "Ca khúc da vàng". Tôi thì, khi chưa có chiến tranh, mới đi từ Hà Nội vào Nam tôi đã ý thức ngay phải làm nhạc về tình quê hương, tình dân tộc. Theo kháng chiến, tôi đã nói được vinh quang của dân tộc cũng như khổ đau của dân tộc. Tôi làm việc có chương trình, có hoạch định, chứ không phải nổi hứng lên thì làm".   
  Không bài bác ai,Phạm Duy lặn lội thăm lại bạn bè khi về nước và im lặng thấu hiểu nhau như Hoàng Cầm tâm sự " Chúng tôi có cái lạ lắm, không ai nói với ai một lời nào cả, nhưng đầy dẫy tâm sự. Có thể nói chúng tôi nói chuyện với nhau bằng một sức im lặng. Hình như giữa chúng tôi có một cái ngôn ngữ nào mà không cần phải nói ra. Theo tôi đó là tình tự dân tộc".
 Ngưới ta cho rằng Phạm Duy chỉ là con người với những cái hay cái đẹp và tật xấu nên ông thông cảm với con người ,nhìn ra và diễn tả tuyệt vời những cái đẹp cũng như không né tránh những cái xấu xa của con người.Vì thế tác phẩm ông làm cho người ta dễ cảm ,rung động và gần gũi một cách đặc biệt !

    6.Do bị cấm đoán nên tôi cũng như nhiều người biết đến nhạc Phạm Duy khá muộn.Sau giải phóng ,tôi biết ông qua so sánh  vừa bí mật vừa lo sợ của bạn học trong Miền Nam.Đó là giữa Những đồi hoa sim  của Dzũng Chinh  da diết miên man nhưng mất đi cái bi hùng như một trường ca nhiều cung bậc của Áo anh sứt chỉ đường tà,giữa Nha trang mùa thu lại về của Văn Ký nhiều mơ mộng nhưng tâm trạng giản đơn nhất thời với Nha trang ngày về thật nhiều  day dứt ,cô đơn ,giằng xé còn vương mãi ;giữa Việt nam quê hương tôi  của Đỗ Nhuận như một đất nước ca ,  mời gọi mọi người từ xa với một Tình ca niềm nở cầm tay dắt ta vào nhà ,ngồi xuống cùng nâng lên ly rượu hòa ca...
   Tôi không hiểu lắm về nhạc lý để phân biệt  cách ông đưa nhạc  ngũ cung  chạy trên nền nhạc thất cung hiện đại từng nốt ra sao nhưng thích sự phá cách ,sáng tạo lôi cuốn  người  ta vào các cung bậc cảm xúc mà ông đưa lại. Có thể khó nhớ lời trong những bài ca có tính tự sự dài ,nhiều từ trúc trắc thiếu trau chuốt như Trịnh  của ông nhưng những bài thơ phổ nhạc ,nhiều bài có hơi thở bolero lại thich hợp với nhiều người lớn tuổi ưa sự nhẹ nhàng hơi sến như tôi .
 Nhạc Phạm Duy đa dạng ,người nào cũng có thể tìm được những bài hợp gu mình .Khi chị Phụng người giúp việc hỏi“Ông, nhạc của ông là nhạc sang hay sến?”. Ông trả lời ngắn gọn: “Nhạc Việt Nam”.  
  Yêu nhạc Phạm Duy ta thêm yêu tiếng Việt,yêu nước  mình và thương người yêu người hơn !       Vậy thì còn mong ước gì hơn  cho một người hát rong thời đại như ông, nhạc sĩ tài ba Phạm Duy Cẩn ?